Đảo Quan Lạn - Sails of Indochina Cruises

(Updated: 1/14/2016 6:10:51 PM)

Năm 1288, quân dân nhà Trần dưới sự chỉ huy của Trần Khánh Dư và 3 anh em họ Phạm đã kịch chiến trong suốt 10 ngày với đoàn thuyền của Trương Văn Hổ, và tiêu diệt đoàn thuyền này. Hiện có đền thờ 3 anh em họ Phạm và đền thờ (nghè) Trần Khánh Dư được xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia.

Ngày này, đây là một địa điểm phát triển về ngành du lịch, vào ngày 18/6 âm lịch mỗi năm có một lễ hội, đó là lễ hội Chèo bơi rất được mọi người ưa chuộng, các nơi đều về dự. Dân số toàn đảo khoảng 8000 người. Được đánh giá biển Quan Lạn là một trong những bãi biển hoang sơ và quyến rũ nhất Vietnam.
 

Bãi tắm Minh Châu:
Tàu ở cảng Cái Rồng đón bạn đi thẳng ra đảo Quan Lạn nơi có bãi tắm Minh Châu thời gian tàu chạy khoảng 3 giờ, có dừng tại một số đảo để du khách có thể chụp ảnh lưu niệm và ngắm cảnh vịnh lúc hoàng hôn hoặc về chiều . Tại bãi tắm Minh Châu du khách có thể thả hồn vào các buổi cắm trại, vui chơi tham quan tại đảo và tìm hiểu thêm về sinh vật biển hàng ngày có tại bãi biển, tham gia và tổ chức các trò chơi trên biển, cùng ngắm nhìn biển về đêm trong không gian tĩnh lặng và tuyệt đẹp của biển. Tại đây du khách có thể vừa tắm biển lại có thể thưởng thức những hương vị đặc sản của biển khơi trong chuyến đi thú vị của mình.

Bãi Biển Sơn Hào
Những buổi chiều cùng người thân, bạn bè đến tắm mát, thả mình dưới nàn nước trong xanh mát mẻ hay cùng nhau chơi những trò chơi trên cát, ngắm nhìn những em bé tung tăng nô đùa mang lại cho chúng ta một cảm xúc thư thái, yên bình, lãng mạng quên đi cái ồn ào, đông đúc của nơi thành thị, hãy đến với du lịch Quan lạn để có một mùa hè đầy sảng khoái và tràn đầy năng lượng, du lịch Ethnic Voyages cam kết là người phục vụ tốt nhất cho chuyến đi của quý khách.

Bãi tắm Quan Lạn
Cách thành phố Hạ Long 55 km, mà mất khoảng 2,5 giờ đến 3 giờ đi tàu ra đến đảo Quan Lạn. Hiện nay công ty Du Lịch Việt Nam đã đầu tư xây dựng một hệ thống nhà nghỉ theo kiểu nhà sàn ẩn mình trong những rặng phi lao xanh ngắt. Một con đường lát gạch đỏ au đón du khách từ trục đường chính của xã đến bãi tắm Quan Lạn. Vẻ đẹp hoang sơ và môi trường sinh thái trong lành ở đây tạo nên sự hấp dẫn du khách đến với bãi tắm Quan Lạn. Hàng năm, cứ đến mùa hè tour du lịch Quan Lạn đã thu hút hàng triệu du khách. Đây vẫn sẽ là điểm du lịch lý tưởng và là sự lựa chọn hàng đầu của du khách trong năm nay.
 

Chùa Quan Lạn
Chùa nằm bên cạnh đình Quan Lạn (hay còn gọi Linh Quang Tự), theo hướng Đông Nam. Chùa có kiến trúc giản dị với 3 gian. Ngoài cùng là tam quan, sau đến bái đường và hậu cung. Chùa Quan Lạn thờ Phật và công chúa Liễu Hạnh và cụ Hậu. Tương truyền cụ Hậu là một bà lão ở Quan Lạn không chồng con, sinh thời hiền lành, phúc đức, chăm chỉ làm ăn để dành một số tiền của. Cụ Hậu đã dâng toàn bộ tài sản của mình cho nhà chùa. Dân làng đã tạc tượng cụ Hậu - là bức tượng dân gian khá đặc sắc còn lưu giữ và thờ trong chùa.
 

Đình Quan Lạn
Cụm di tích Du Lịch Quan lạn nằm trên đảo Quan Lạn thuộc quần đảo Vân Hải. Quan Lạn là mảnh đất gắn liền với truyền thống lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Năm 1990 cụm di tích Quan Lạn được Bộ Văn hoá – Thông tin (này là Bộ Văn hoá - Thể thao – Du lịch) xếp hạng với hệ thống đình – chùa - miếu nghè công nhận là di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.

Lúc đầu đình Quan Lạn được dựng gần bến Cái Làng, trung tâm thương cảng Vân Đồn, sau này vào những năm 1890 – 1900 đình được chuyển về xây dựng tại vị trí như ngày nay (thôn Đoài - xã Quan Lạn - huyện Vân Đồn). Đình tựa thế năm ngọn núi cao tạo thành hình ngũ nhạc. Người Quan Lạn từ xưa tới nay rất tự hào khi chọn được vị thế “Tiền Tam thai, hậu Ngũ nhạc “ cho ngôi đình làng của mình.
 
Đình Quan Lạn thờ Thành Hoàng Làng, các vị tiên công có công lập ấp dựng làng, sau đó thờ Trần Khánh Dư, vị tướng đã có công lớn trong trận đành đoàn thuyền lương giặc Nguyên – Mông và rất gắn bó với vùng đảo này. Tượng Trần Khánh Dư là pho tương lớn nhất trong đinh cao 157cm, trong thế ngồi ngai, hai tay đặt trên đùi. Ngoài ra, đình còn thờ cả Dương Khổng Lộ và “tứ vị thánh nương” là những vị thần được truyền tụng thường che chở cho những người đi biển.
 

Nghè Quan Lạn
Nghè và đình Quan Lạn có mối quan hệ gắn bó, mật thiết trong đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư địa phương. Đám rước từ nghè về đình và hội đua thuyền Quan Lạn là biểu hiện sinh động cho mối quan hệ nói trên. Nghè Quan Lạn nằm về phía đông bắc của đảo Quan Lạn trên trục đường chính Quan Lạn đi Minh Châu cách đình khoảng 1,2km. Nghè cũ sau khi bị hỏng đến năm 1986 được xây dựng lại khang trang, dân làng long trọng rước Bài vị, sắc phong đức thánh về an toạ tại nghè. Hàng năm đúng vào ngày 16/6 âm lịch, dân làng làm lễ rước bài vị, sắc phong của ngài từ nghè về đình tổ chức hội chèo bơi truyền thống và ngày 19/6 âm lịch làm lễ xa giá hoàn cung rước bài vị, sắc phong của ngài về nghè. Nghè và đình Quan Lạn có mối quan hệ gắn bó, mật thiết trong đời sống tinh thần của cộng đồng dân cư địa phương. Đám rước từ nghè về đình và hội đua thuyền Quan Lạn là biểu hiện sinh động cho mối quan hệ nói trên.
 

Miếu Quan Lạn
Ở Quan Lạn có bốn ngôi miếu, đó là miếu Cao Sơn, miếu Đức Ông, miếu Sao Ơn và miếu Đồng Hồ. Miếu Sao Ơn và miếu Đức Ông, Miếu Đồng Hồ là nơi thờ ba anh em tướng lĩnh họ Phạm  đã tham gia chiến đấu trong trận đánh giặc Nguyên Mông thế kỷ XIII và các ông đã hy sinh ngay trên vùng biển Quan Lạn. Xác của ba ông đã trôi dạt vào bờ ở ba nơi: Sao Ơn, Đồng Hồ, Bến Đình như vị trí miếu thờ ba ông ngày nay.
Miếu Cao Sơn thờ thần núi, một vị thần mà người dân trong đảo tôn sùng, họ cho rằng nhờ có vị thần này che chở mà đời sống của họ được ấm êm, no đủ. Ngoài ra, miếu còn thờ Đỗ Tấn Thân, cụ tổ của dòng họ Đỗ.

 

Ngọn Hải Đăng Quan Lạn
Ngọn này được coi là cổ xưa nhất Việt Nam và Đông Nam Á. Với kết cấu bên ngoài là vô số những viên đá hoa cương được đẽo gọt và tính toán rất kỹ lưỡng sao cho chỉ cần lắp ghép những viên đá vào với nhau có thể tạo thành một khối vững chắc. Bên trong có 184 bậc thang xoáy ốc dẫn lên đỉnh cùng hàng chục bậc tam cấp dẫn lên đến đỉnh đèn. Tất cả vật liệu xây dựng đều được đưa từ Pháp sang kể cả ngọn đèn có công suất 2.000 w trên đỉnh và máy phát điện.

Ngọn đèn này có thể chiếu xa trong vòng bán kính 40 km tương đương 22 hải lý tạo thành những luồng sáng kỳ ảo, nhấp nháy liên tục như một vì sao theo chu kỳ 20 giây 1 lần. Nếu không có cơ hội được leo lên tận đỉnh ngọn hải đăng khi đêm về, bạn chỉ cần ngồi trên cát cũng có thế thấy trong mỗi 20 giây, ánh sáng đèn lặp lại một cách chính xác tuyệt đối trên biển, quét mạnh mẽ vào không gian.

Những Đặc Sản Hấp Dẫn Trên Đảo Quan Lạn
1. Đặc Sản Sá Sùng

Sá sùng là loài thân mềm chỉ sống ở những bãi cát ven biển nơi thủy triều lên, xuống tạo ra những doi cát. Sá sùng là một trong những hải sản quý hiếm. Từ thời xưa, chúng được khai thác để làm cống vật cho vua, quan. Chỉ có những người giàu có mới đủ điều kiện sử dụng. Sá sùng phân bố rải rác ở các bãi triều từ Yên Hưng đến Móng Cái nhưng tập trung nhất vẫn là vùng Minh Châu, Quan Lạn thuộc huyện đảo Vân Đồn (Quảng Ninh).

Theo quan sát, những người khai thác sá sùng đi theo những con đường vô định, nhanh như cắt phóng thuổng xuống và hất lên tảng cát lớn. Ở đó văng ra chú sá sùng đỏ hồng ngoe nguẩy, thoạt trông rất giống con giun, có khác là thứ đặc sản biển này,... mũm mĩm hơn và lớn hơn giun; loại "trưởng thành" đạt chuẩn, dài từ 7-15cm. Sá sùng sinh sống trên các bãi cát vùng triều và dưới triều, thường là những vùng tiếp giáp với vùng có rừng ngập mặn. Loại này thường ẩn mình trong các đường hang tự đào trong cát, khi kiếm ăn chúng chui lên bề mặt bãi cát, thò các xúc tu dài để tìm kiếm thức ăn xung quanh miệng hang và sẽ chui xuống cát rất nhanh khi có tiếng động.

Theo Đông y, sá sùng có thể sử dụng như một vị thuốc cường dương, tăng sinh lực. Chúng có thể dùng để chế biến để làm thuốc bằng cách ngâm nước muối, luộc chín, căng ra phơi khô. Muốn ăn lại thì đem luộc lần nữa rồi cắt thành từng miếng nhỏ nấu với thuốc Bắc hoặc bỏ vào bụng gà ác hầm nhừ rồi ăn.

Ngoài ra, sá sùng còn được sử dụng cả lúc còn tươi (nấu canh, xáo) hay khô (rang). Trong món phở truyền thống của Hà Nội và Nam Định, để làm ngọt nước dùng, ngoài ninh xương bò, người ta còn cho thêm sá sùng hoặc tôm nõn.


2. Cù Kỳ Quảng Ninh
Cù kỳ hay cua cù kỳ, cua đá là một loại cua biển có hai càng rất to, chân có nhiều lông, thịt chắc và rất thơm. Nhiều nơi người ta còn gọi nó là con cùm cùm. Loài này phân bố ở những vùng biển ấm như Malaysia, Indonesia. Tại Việt Nam loài này phân bố ở bờ biển Quảng Ninh, Khánh Hòa nhưng cù kì có giá trị thực phẩm thì chỉ có ở Quảng Ninh. Loài cua này đã trở thành một món ăn đặc sản ở Quảng Ninh (Bái Tử Long,Hạ Long và Móng Cái).

Loài cua này có thể dễ dàng được nhận ra bởi mai màu nâu, mắt màu xanh lá cây sáng và hai càng rất to. Nó sống trong khe đá, mảnh gỗ dọc theo các vách đá bờ biển và rừng ngập mặn, cũng như trong vỏ trai, trang trại nuôi trồng thủy sản, nhà bè và đê chắn sóng, nó rất chậm chạp, bám vào đá rất chắc chắn. Chúng có thể phát triển đến kích thước lớn (chiều rộng lên đến 12 cm), ăn các loài phù du, giáp xác nhỏ.

Cù kỳ tuy thịt không ngon ngọt như thịt cua biển nhưng ngon hơn ghẹ, giá cả lại rẻ hơn cua nên rất được ưa chuộng. Tuy nhiên thịt cù kỳ chỉ có ở hai càng, phần thân xốp và hầu như không có thịt. Cù kỳ cũng được chế biến theo nhiều cách khác nhau như nấu bún, hấp, rang me, nướng than hồng, gỡ thịt xào miến hay làm ruốc cho trẻ em.


3. Cầu Gai
Cầu Gai là một loại hải sản quý hiếm có giá trị dinh dưỡng cao đem lại nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe. Cà ghim (cầu gai) là một đặc sản có nhiều ở vùng đảo Vân Hải. Người dân trong quần đảo Vân Hải nói chung và Quan Lạn nói riêng thường chế biến thành các món ăn như mắn cà ghim và chả cà ghim.
Mùa cầu gai sinh sản từ tháng ba cho đến tháng sáu hay tháng bảy âm lịch (từ tiết xuân phân và kết thúc vào tiết lập thu). Cuối mùa, cầu gai rất chắc thịt. Khi nhỏ, cầu gai tựa trái chôm chôm, màu đen thẫm. Lớn lên, cầu gai có hình tròn dẹt, đường kính khoảng 8-10 cm; dày 3-4 cm. Con cầu gai lớn hết cỡ có thể bằng trái cam sành nhưng dẹp, dày cỡ ba lóng tay.

Việc chế biến mắm cà ghim rất công phu. Ngư dân thường dùng hai que cứng cùng xâu vào một chỗ trên thân cà ghim, tách que về hai phía làm cho hai mảnh vỏ cà ghim rời ra. Thịt cà ghim cho vào nước ngọt từ 30- 40 phút để ruột cà ghim tách khỏi thân. Vớt cà ghim sang một chậu nước sạch, dùng que nứa nạo sạch màng ruột còn bẩn, đồng thời tách riêng từng mảng thân cà ghim, vớt ra rổ để thật ráo nước, cho muối vào. Muối từ 3- 5 tháng là ăn được. Nếu ăn ngay thì giảm nửa lượng muối, trộn thật đều cho muối tan. Để sau 3-4 ngày đem ăn. Mắm cà ghim thường sệt, quánh. Màu vàng nâu nhạt. Mùi vị chua, ngậy béo.


4. Mực Khô Vân Đồn
Mực khô hay còn gọi là khô mực là một món ăn đặc trưng của ẩm thực Việt Nam được chế biến từ nguyên liệu là những con mực bằng phương pháp sấy khô hoặc phơi nắng. Sau khi đánh bắt những con mực còn tươi rói, người ta sẽ xẻ và làm sạch con mực, chỉ để lại phần thân và phần đầu rồi đem phơi nắng hoặc sấy khô cho đến khi con mực trở nên khô và cứng. Mực khô tại vùng biển Vân Đồn có mùi vị thơm ngon đặc biệt khác với nhiều nơi.
 
Một con Mực khô hay khô mực đảm bảo chất lượng, thơm ngon khi đáp ứng một số yêu cầu sau:
 

- Về màu mực: Mực khô được phơi khi còn tươi sẽ có bụng màu trắng, lưng màu hồng nhạt tự nhiên và những chấm đen mờ thể hiện đúng với da của mực, mùi không tanh hay dính ướt tay. Mực khô ngon khi nướng lên, xé ra thịt bên trong cũng hồng nhạt và dẻo, dai, không vụn.
 
- Về bề ngoài: Mực khô được phơi theo 2 hình thức phơi trên phiên và phơi treo. Mực khô phơi treo thường có thân thẳng mình dày, mực khô cào thường được phơi trên phiên nên mình mỏng. Mực câu ngon hơn mực cào nên có giá cao hơn. Thân thẳng, mình dày là một trong những đặc điểm rất dễ nhận biết mực khô ngon.
 
- Về mùi vị: mùi không tanh, khi đụng vào không thấy ướt tay. Thân mực phải khô, không lưu lại mùi tanh trên tay. Đây là đặc điểm về mực khô rất quan trọng và dễ nhận biết. Về phần đầu, đầu mực khô, mực khô ngon có đầu phải gắn liền và chắc vào thân mực, râu còn nhiều có màu trắng hồng, thẳng.
 
Mực khô có thể ở dạng nguyên con hoặc xé tơi thành từng sợi nhỏ. Món mực khô đặc biệt thông dụng, giữ được lâu, chế biến thành nhiều món ngon và là đặc sản tại một số vùng nhất là các vùng biển và được du khách mang về như một món quà, đặc biệt là món mực một nắng (mực ải). Mực khô rất thích hợp trong các dịp nhậu đặc biệt là mực khô nướng và dùng chung với bia.

Du Thuyền Đông Dương